1. Cơ sở pháp lý

Bộ luật hình sự 2015

2. Nội dung

Dấu hiệu pháp lý:

Chủ thể:

Chủ thể của tội phạm này không phải là chủ thể đặc biệt, chỉ cần người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đến một độ tuổi theo quy định của Bộ luật hình sự thì đều có thể trở thành chủ thể của tội phạm này.

Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 của điều luật; người đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này không phân biệt thuộc trường hợp quy định tại khoản nào của điều luật.

Người có hành vi huỷ hoại rừng nếu chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu trước đó họ đã bị xử phạt hành chính về hành vi huỷ hoại rừng mà còn vi phạm.

Khách thể của tội phạm

Tội huỷ hoại rừng là tội xâm phạm đến chế độ quản lý rừng của Nhà nước, xâm phạm nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, gây ra những hậu quả nghiêm trọng khác cho đời sống xã hội.

Đối tượng tác động của tội phạm này chính là rừng bao gồm: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất.

– Rừng phòng hộ được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm: Rừng phòng hộ đầu nguồn; Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay; Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển; Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường.

– Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm: Vườn quốc gia; Khu bảo tồn thiên nhiên gồm khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài – sinh cảnh; Khu bảo vệ cảnh quan gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học

– Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm: Rừng sản xuất là rừng tự nhiên; Rừng sản xuất là rừng trồng; Rừng giống gồm rừng trồng và rừng tự nhiên qua bình tuyển, công nhận.

Mặt chủ quan của tội phạm

Người thực hiện hành vi phạm tội này là do cố ý, điều này thể hiện ngay ở tên tội danh “huỷ hoại” và trong điều văn của điều luật. Khái niệm “huỷ hoại” đã chứa đựng ý thức chủ quan của người có hành vi đốt, phá rừng rồi. Cũng tương tự như đối với tội “huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” nhà làm luật chỉ quy định cố ý làm hư hỏng chứ không quy định cố ý huỷ hoại.

Do đó đối với các trường hợp vi phạm vè phòng cháy, chữa cháy hoặc vô ý gây cháy rừng chỉ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” quy định trong Bộ luật hình sự.

Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan

Người phạm tội huỷ hoại rừng có thể thực hiện một hoặc một số hành vi khách quan sau:

Đốt rừng là dùng lửa hoặc các hoá chất phát lửa làm cho rừng bị cháy, có thể cháy toàn bộ hoặc chỉ cháy một phần; Hành vi đốt rừng làm rẫy của đồng bào ở vùng cao nếu được chính quyền cho phép thì không coi là huỷ hoại rừng. Tuy nhiên, việc đốt rừng làm rẫy cho đến nay hầu như không được phép.

Phá rừng là chặt phá cây trong rừng hoặc khai thác tài nguyên của rừng không được các cơ quan Nhà nước có  thẩm quyền cho phép như: khai thác gỗ, khai thác các lâm sản trái phép.v.v…

Hành vi khác hủy hoại rừng là ngoài hai hành vi đốt rừng và phá rừng trái phép thì bất cứ hành vi nào làm cho rừng bị tàn phá đều là hủy hoại rừng như: dùng hoá chất độc phun hoặc rải xuống đất làm cho cây rừng bị chết khô, thả gia súc vào rừng mới trồng để gia súc phá hoại cây rừng v.v…

Hậu quả

Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này; nếu người phạm tội chưa bị xử phạt hành chính về hành vi huỷ hoại rừng thì phải gây hậu quả nghiêm trọng thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Các dấu hiệu khách quan khác

Đối với tội phạm này, nhà làm luật không quy định thêm các dấu hiệu khách quan khác là yếu tố định tội nhưng không vì thế mà cho rằng khi xác định hành vi phạm tội huỷ hoại rừng không cần nghiên cứu các văn bản của Nhà nước về quản lý và bảo vệ rừng như: Luật bảo vệ và phát triển rừng; Nghị định của Chính phủ về bảo vệ và phát triển rừng; Thông tư liên tịch của các Bộ, Ngành có liên quan đến việc bảo vệ và phát triển rừng, các hướng dẫn của các cơ quan tiến hành tố tụng về áp dụng Bộ luật hình sự đối với tội huỷ hoại rừng

Hình phạt

Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng thuộc một trong các trường hợp tại khoản 1 điều 243, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp tại khoản 2 thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp tại khoản 3, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm

Ngoài ra, pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng;

c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 5.000.000.000 đồng đến 7.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;

d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Bình Luận

© 2018 SAOVIETLAW.COM Bản quyền thuộc về công ty Luật TNHH Sao Việt

logo-footer