Câu hỏi: Tôi là người Việt Nam hiện nay đang sinh sống ở Bỉ. Tôi có kết hôn với một người tại Bỉ. Nay chúng tôi dự định về Việt Nam sinh sống. Xin hỏi chúng tôi có phải làm thủ tục đăng ký kết hôn lại ở Việt Nam không?

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho chúng tôi, vấn đề của bạn công ty Luật TNHH Sao Việt xin trả lời như sau:

- Căn cứ Luật HNGĐ năm 2014;

- Căn cứ Luật hộ tịch 2014 và các văn bản hướng dẫn

Tại Việt Nam, Quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Trong trường hợp bạn đã kết hôn hợp pháp tại Bỉ (theo quy định pháp luật của Bỉ) và khi kết hôn đã đáp ứng đủ các điều kiện kết hôn ở Việt Nam và không vi phạm điều cấm của pháp luật hôn nhân Việt Nam thì được Nhà nước công nhận và bảo vệ. Nếu vào thời điểm đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, việc kết hôn không đáp ứng điều kiện kết hôn, nhưng không vi phạm điều cấm theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nhưng vào thời điểm yêu cầu ghi vào Sổ hộ tịch việc kết hôn, hậu quả đã được khắc phục hoặc việc ghi chú kết hôn là nhằm bảo vệ quyền lợi của công dân Việt Nam và trẻ em, thì việc kết hôn cũng được ghi vào Sổ hộ tịch.

Căn cứ điều  8 Luật HNGĐ năm 2014 quy định về  Điều kiện kết hôn

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

Các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại điều 5  Luật HNGĐ 2014

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

Tuy nhiên, quan hệ hôn nhân được đăng ký ở cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở nước ngoài không mặc nhiên được công nhận tại Việt Nam. Các bạn cần đến Phòng tư pháp thuộc UBND quận/huyện nơi bạn cư trú để làm thủ tục ghi vào sổ hộ tịch việc kết hôn ở nước ngoài.

- Hồ sơ bao gồm:

a) Tờ khai theo mẫu quy định;

b) Bản sao Giấy tờ chứng nhận việc kết hôn do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp;

c) Ngoài giấy tờ quy định tại Điểm a và b của Khoản này, nếu gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính thì còn phải nộp bản sao giấy tờ của cả hai bên nam, nữ quy định tại Khoản 1 Điều 2 của Nghị định này; nếu là công dân Việt Nam đã ly hôn hoặc hủy việc kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thì phải nộp trích lục về việc đã ghi vào Sổ hộ tịch việc ly hôn hoặc hủy việc kết hôn theo quy định tại Khoản 2 Điều 37 của Nghị định này.

 - Thời hạn giải quyết ghi vào Sổ hộ tịch việc kết hôn là 05 ngày làm việc, kể từ ngày Phòng Tư pháp tiếp nhận hồ sơ. Trường hợp cần xác minh thì thời hạn giải quyết không quá 10 ngày làm việc.

Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của chúng tôi về vấn đề bạn quan tâm. Để được tư vấn cụ thể hơn, vui lòng gửi mail về cho chúng tôi theo địa chỉ: congtyluatsaoviet@gmail.com hoặc liên hệ trực tiếp đến tổng đài 1900 6243.

Trân trọng cảm ơn.

Bình Luận

© 2018 SAOVIETLAW.COM Bản quyền thuộc về công ty Luật TNHH Sao Việt

logo-footer