Câu hỏi:

Xin hỏi luật sư Sao Việt vụ việc như sau: Vào tháng 5/2018 chồng tôi bị cơ quan công an bắt giữ vì có liên quan đến ma túy. Sau đó, công an có đến khám xét nhà tôi và tịch thu một số tài sản. Trong đó có cả 60 triệu đồng, 3.000 USD, đồng hồ của tôi để trong túi xách của tôi. Đó hoàn toàn là tiền riêng của tôi, không liên quan gì đến chồng tôi. Vậy tôi có yêu cầu cơ quan công an trả lại số tiền đó cho tôi được không?

(Ảnh minh họa. Nguồn: Internet)

Trả  lời:

Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Nội dung:

Tịch thu tài sản là một trong các biện pháp tư pháp đối với người phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự, tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm được quy định tại Điều 47 BLHS như sau:

1. Việc tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy được áp dụng đối với:

a) Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội;

b) Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có; khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội;

c) Vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành.

2. Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.

3. Vật, tiền là tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì có thể bị tịch thu”.

Theo quy định trong giai đoạn điều tra, truy tố, các cán bộ cơ quan điều tra và các kiểm sát viên có quyền ra lệnh bắt người phạm tội thì có quyền ra lệnh khám nhà để kê biên tạm giữ tài sản. Trong các trường hợp cơ quan điều tra ra lệnh phải được Viện kiểm sát nhân dân phê chuẩn mới có hiệu lực thi hành. Trừ việc khám nhà để kê biên, tạm giữ tài sản trong các trường hợp phạm tội quả tang, khẩn cấp. Việc ra quyết định tịch thu phải là quyết định của Hội đồng xét xử và bản án có hiệu lực pháp luật.

Vì chồng bạn bị bắt do liên quan đến ma túy nên cơ quan công an có quyền điều tra về quá trình chồng bạn buôn bán ma túy ra sao, do đó tịch thu vật chứng là một trong những cách điều tra.

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về vật chứng như sau:

Điều 89. Vật chứng: “Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.

Vì vậy, cơ quan công an đang cho rằng tài sản của bạn do mua bán, đổi chác từ hành vi phạm tội mà có và đã tiến hành thu giữ số tài sản đó để điều tra. Trong quá trình điều tra, nếu xét thấy số tài sản đó không phải vật chứng trong vụ án thì bạn có thể được trả lại.

Cụ thể theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 như sau:

Khoản 1, 3 Điều 106 về thẩm quyền xử lý vật chứng

“1, Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Chánh án Tòa án quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử; do Hội đồng xét xử quyết định nếu vụ án đã đưa ra xét xử. Việc thi hành quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản.

3, Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền:

a) Trả lại ngay tài sản đã thu giữ, tạm giữ nhưng không phải là vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó;

b) Trả lại ngay vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án;…”

Như vậy, sẽ có hai khả năng xảy ra đó là:

Trường hợp thứ nhất: Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra xác định số tài sản của bạn là vật chứng liên quan đến hành vi có liên quan đến tội phạm ma túy thì số tài sản đó sẽ được xử lý theo Khoản 2, điều 106, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, cụ thể là bị tịch thu và nộp vào ngân sách nhà nước. Do đó, bạn không được nhận lại số tài sản nếu là vật chứng trong vụ án.

Trường hợp thứ hai: Nếu trong quá trình điều tra xác định số tài sản đó không phải là vật chứng và không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, thi hành án thì được trả lại cho bạn.

Do đó, để có thể yêu cầu cơ quan công an trả lại số tài sản đó bạn nên phối hợp với cơ quan điều tra, cung cấp đầy đủ thông tin để việc điều tra được diễn ra thuận lợi và nhanh chóng. Nếu số tài sản đó được xác định không phải là vật chứng (hoặc bạn có bằng chứng chứng minh không phải là vật chứng) thì bạn sẽ nhận lại được số tiền và tài sản của bạn bị cơ quan công an thu giữ.

Để nhận được ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, bạn đọc vui lòng liên hệ với các Luật sư, chuyên viên pháp lý của Công ty Luật TNHH Sao Việt qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6243 hoặc E-mail: congtyluatsaoviet@gmail.com.

Bình Luận

© 2018 SAOVIETLAW.COM Bản quyền thuộc về công ty Luật TNHH Sao Việt

logo-footer