Câu hỏi:

Thưa Luật sư, công ty tôi đang làm việc người lao động được hưởng mức lương từ 5 đến hơn 10 triệu, nhưng công ty chỉ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trên mức lương tối thiểu vùng (hơn 4 triệu), ngoài ra còn có những trường hợp không đóng bảo hiểm. Luật sư cho tôi hỏi, trong trường hợp này, công ty có thể phải chịu trách nhiệm như thế nào? 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi tới Luật Sao Việt, Luật sư Sao Việt có ý kiến tư vấn như sau:

Trước hết, hành vi không đóng bảo hiểm cho người lao động như bạn nêu trên là hành vi trốn đóng bảo hiểm và bị nghiêm cấm được quy định tại khoản 1 Điều 17 Luật  Bảo hiểm xã hội năm 2014. Và nếu vi phạm thì việc chậm đóng bảo hiểm sẽ bị lập biên bản và bị phạt tiền với mức như sau:

Trường hợp 1: Đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp không đúng mức quy định hoặc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp không đủ số người thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp thì người sử dụng lao động bị phạt từ 12% đến 15% tổng số tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng (theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 26 Nghị định số 95/2013/ND-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng).

Trường hợp 2: Người sử dụng lao động không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp cho toàn bộ người lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp thì có thể bị phạt tiền với mức từ 18% đến 20% tổng số tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng (theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 26 Nghị định số 95/2013/ND-CP)

Nếu hành vi trốn đóng bảo hiểm cho người lao động thuộc trường hợp người nào có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động mà gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ theo quy định từ 06 tháng trở lên hoặc thuộc một trong những trường hợp sau đây đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm: 

a) Trốn đóng bảo hiểm từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;

b) Trốn đóng bảo hiểm cho từ 10 người đến dưới 50 người lao động.

Thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm về Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động được quy định tại Điều 216 BLHS năm 2015.

Để xác định mức hình phạt người phạm tội có thể phải chịu thì trước tiền cần xác định chủ thể của tội này là ai, cá nhân hay pháp nhân thương mại?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật lao động năm 2012 thì: “Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động; nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.”.

Do đó, theo như thông tin bạn đưa ra thì người có trách nhiệm phải đóng bảo hiểm là chủ sử dụng lao động – Công ty mà bạn đang làm việc và là một pháp nhân thương mại.  Căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 216 BLHS 2015 thì pháp nhân thương mại có thể bị xử phạt từ 200.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng tùy thuộc mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội.

Để nhận được ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, bạn đọc vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Sao Việt qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6243 hoặc E-mail: congtyluatsaoviet@gmail.com.

 

Bình Luận

© 2018 SAOVIETLAW.COM Bản quyền thuộc về công ty Luật TNHH Sao Việt

logo-footer