Hỏi: Thưa luật sư, hiện nay có nhiều trường hợp  kẻ gian đã giả làm thợ sửa điện hay thợ sửa ống nước… để vào nhà dân. Đến lúc chúng đi, người nhà mới phát hiện tài sản đã bị mất như trường hợp của ông Ngô Văn S (bị lấy tài sản trị giá khoảng 500 triệu) , bà Nguyễn Thị L (bị lấy đi số tài sản trị giá khoảng 200 triệu) ở thành phố Hồ Chí Minh đã được báo mới đưa tin trong thời gian vừa qua. Thưa luật sư, trong trường hợp này thì những kẻ giả mạo để vào nhà lấy tài sản có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? Và nếu có thì về tội gì, trộm cắp hay lừa đảo?

Trân trọng cảm ơn Luật sư.

Trả lời:

Chào bạn, với câu hỏi của bạn, Luật sư Công ty Luật TNHH Sao Việt có câu trả lời như sau:

Đối với trường hợp kẻ gian giả làm thợ điện/thợ sửa nước để vào nhà và lấy đi tài sản thì tùy thuộc trường hợp cụ thể để xác định xem có đủ dấu hiệu để cấu thành tội phạm hay không. Xét riêng đối với hai trường hợp đã được báo đưa tin mà bạn nói đến ở trên thì có thể nhận định như sau:

Hành vi của những người mạo danh thợ để vào nhà, lấy trộm đồ là hành vi có dấu hiệu của tội trộm cắp tài sản. Bởi: về hành vi chiếm đoạt tài sản là bằng thủ đoạn lén lút (lén lút đối với chủ sở hữu). Còn đối với việc giả mạo chỉ là 1 phương thức để tiếp cận nạn nhân, tiếp cận tài sản và để việc trộm tài sản được thực hiện một cách thuận lợi. Chỉ khi nào việc giả mạo đó nhằm làm cho nạn nhân tin tưởng và giao tài sản thì trường hợp đó mới hành vi lừa đảo nhằm nhiếm đoạt tài sản. Cụ thể, tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015 như sau:

Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội về chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật.

Tùy thuộc giá trị tài sản bị chiếm đoạt để xác định khung hình phạt đối với người phạm tội. Nếu số tiền chiếm đoạt là từ 200 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng thì người phạm tội thuộc khoản 3 Điều 173 BLHS với khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm. Trường hợp tài sản bị chiếm đoạt trị giá trên 500 triệu đồng thì thuộc khoản 4 Điều 173 với khung hình phạt từ 12 đến 20 năm.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề bạn quan tâm. Để được tư vấn cụ thể hơn, vui lòng gửi mail về cho chúng tôi theo địa chỉ: congtyluatsaoviet@gmail.com hoặc liên hệ trực tiếp đến tổng đài 1900 6243.

Trân trọng.

Bình Luận

© 2018 SAOVIETLAW.COM Bản quyền thuộc về công ty Luật TNHH Sao Việt

logo-footer