Thưa Luật sư Sao Việt: Anh A có vay của tôi 800 triệu, do không có tiền trả nên tôi đã khởi kiện anh A và Tòa án đã ra quyết định buộc anh A phải trả cho tôi số nợ nói trên. Đến khi thi hành án do anh A không có khả năng trả nợ, chỉ có diện tích nhà đất 70 m2 của gia đình nên Chấp hành viên đã kê biên bán đấu giá 02 lần nhưng vẫn không bán được, sau đó việc bán đấu giá đã bị đình chỉ vì liên quan đến quyền sử dụng đất của hộ gia đình. Vậy bây giờ tôi muốn nhận chính nhà đất đó để gán nợ có được không. Tôi phải làm gì để có thể đòi lại số tiền anh A đã vay của tôi? Mong luật sư tư vấn giúp.

 

Hình ảnh minh họa (Nguồn: internet)

 

Trả lời:

Chào bạn,cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi. Với câu hỏi này, Luật Sao Việt xin có quan điểm tư vấn như sau:

Có 2 vấn đề được đặt ra đó là :

1. Người được thi hành án có thể nhận chính tài sản của người phải thi hành án để đảm bảo thực hiện quyết định thi hành án hay không.

Theo quy định hiện nay thì người được thi hành án có thể nhận tài sản của người phải thi hành án, nhưng chỉ trong trường hợp Bán đấu giá tài sản mà không có người tham gia đấu giá hoặc không đấu giá thành công, cụ thể như sau:

Tài sản đã bị kê biên được bán theo hai hình thức, đó là Bán đấu giáBán không qua đấu giá. Việc bán đấu giá đối với tài sản kê biên là bất động sản có giá trị từ trên 10.000.000 đồng và bất động sản do tổ chức bán đấu giá thực hiện.

Trường hợp bạn nêu trên là việc Chấp hành viên đã tiến hành các thủ tục đấu giá theo quy định của pháp luật nhưng không có người tham gia đấu giá hoặc bán đấu giá không thành. Theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì  người được thi hành án có quyền nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án.

Đối với nhà đất của A là tài sản bất động sản nên phải đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu thì Chấp hành viên mới ra quyết định giao tài sản cho người được thi hành án để làm thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng tài sản đó cho người được thi hành án. Người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản không tự nguyện giao tài sản cho người được thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án.

2.Tài sản bảo đảm thi hành án liên quan đến quyền sử dụng, quyền sở hữu chung của hộ gia đình.

Đối với trường hợp tài sản của người phải thi hành án liên quan đến tài sản chung của hộ gia đình nên chưa thể thực hiện việc thi hành án, theo quy định tại khoản 1 Điều 74 Luật thi hành án:

 “Trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án thì Chấp hành viên phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự”.

Do đó, việc bạn cần làm đó là đề nghị Chấp hành viên ra thông báo yêu cầu đương sự là anh A, hoặc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thỏa thuận việc phân chia tài sản hoặc yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xác định quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án. Nếu hết thời hạn 30 ngày chấp hành viên thông báo mà anh A, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thỏa thuận hoặc thỏa thuận đó vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc không có yêu cầu đối với Tòa án thì Chấp hành viên sẽ thông báo cho bạn là người được thi hành án yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự.

Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà bạn không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự. Chấp hành viên xử lý tài sản theo quyết định của Tòa án.

Để nhận được ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, bạn đọc vui lòng liên hệ với các Luật sư, chuyên viên pháp lý của Công ty Luật TNHH Sao Việt qua:

Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6243 hoặc 0243 636 7896

E-mail: saovietlaw@vnn.vn

                                                    

Bình Luận

© 2018 SAOVIETLAW.COM Bản quyền thuộc về công ty Luật TNHH Sao Việt

logo-footer