Nội dung câu hỏi: 

Tôi và chồng tôi kết hôn từ năm 2005, hiện có một đứa con gái năm nay được 8 tuổi. Năm ngoái, chồng tôi ra nước ngoài làm ăn theo diện lao động xuất khẩu. Sau đó chồng tôi có quen người khác ở bên kia và muốn ly hôn với tôi, cả tôi và chồng tôi đều thống nhất việc ly hôn, con gái sẽ do tôi nuôi và chồng tôi cấp dưỡng. Nhưng còn ngôi nhà là tài sản chung do công sức hai vợ chồng cùng đóng góp xây dựng thì chúng tôi chưa thống nhất được việc phân chia. Hơn nữa, chồng tôi ở nước ngoài và không chịu về nước làm thủ tục ly hôn. Mẹ chồng tôi nói anh ta đã chuyển đi nơi khác, nhưng mẹ chồng tôi không cho tôi địa chỉ mới, t
ôi chỉ có địa chỉ cũ của chồng tôi ở nước ngoài. Vậy, tôi muốn hỏi là trong trường hợp của tôi thì thủ tục ly hôn sẽ như thế nào? Ngôi nhà sẽ được chia như thế nào? 

Công ty Luật TNHH Sao Việt trả lời như sau: 

Đối với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin trả lời từng vấn đề như sau: 
1. Về thủ tục ly hôn khi chồng bạn không chịu về nước 
- Trong trường hợp của bạn, do bạn và chồng mặc dù đã thỏa thuận được về việc ly hôn, nuôi dưỡng con nhưng vẫn chưa thỏa thuận được về tài sản nên không được coi là thuận tình ly hôn. Mặt khác, chồng bạn không về nước để ký vào đơn xin ly hôn. Do đó, bạn có thể làm thủ tục đơn phương ly hôn.
-  Tòa án có thẩm quyền giải quyết ly hôn
Trong trường hợp này, chồng bạn đang làm việc ở nước ngoài. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 33, điểm c khoản 1 Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết ly hôn thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
Theo quy định tại Điều 35, 36 Bộ luật Tố tụng dân sự, bạn có thể gửi đơn ly hôn đến Tòa án nơi chồng bạn cư trú trước khi đi xuất khẩu lao động hoặc nơi bạn cư trú (nếu bạn và chồng bạn có thỏa thuận).
- Hồ sơ xin ly hôn bao gồm:
+ Đơn xin ly hôn;
+ Giấy đăng ký kết hôn (bản chính);
+ Bản sao chứng minh nhân dân (chứng thực);
+ Bản sao sổ hộ khẩu (chứng thực);
+ Giấy khai sinh của con;
+ Các giấy tờ chứng minh về tài sản;
+ Giấy xác nhận của chính quyền địa phương về việc chồng bạn đã xuất cảnh.
2. Bạn không xác định được địa chỉ của chồng ở nước ngoài 
Theo quy định tại tiểu mục 2.1 mục 2 phần II Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
Trong trường hợp Tòa án thực hiện việc ủy thác tư pháp đến địa chỉ của chồng bạn không có kết quả thì Toà án yêu cầu người thân của chồng bạn gửi cho chồng bạn lời khai của bạn và báo cho chồng bạn gửi về Toà án những lời khai hoặc tài liệu cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Sau khi có kết quả, Toà án có thể căn cứ vào những lời khai và tài liệu đó để xét xử.
Nếu chồng bạn vẫn có liên hệ với người thân ở trong nước, nhưng người thân của họ không cung cấp địa chỉ, tin tức cho Toà án, cũng như không thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho chồng bạn biết để gửi lời khai về cho Toà án, thì coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Nếu Toà án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà người thân của chồng bạn cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của chồng bạn cho Toà án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho chồng bạn biết, thì Toà án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chồng bạn.
3. Về phân chia tài sản chung
Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 59 Luật Hôn nhân gia đình 2014 thì khi ly hôn, tài sản chung vợ chồng được chia như sau:
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.”

Bình Luận

© 2018 SAOVIETLAW.COM Bản quyền thuộc về công ty Luật TNHH Sao Việt

logo-footer