Câu hỏi: Thưa Luật sư, bố mẹ chồng tôi có cho chồng tôi một thửa đất 1000m2, hợp đồng tặng cho không có điều kiện gì đặt ra và đã được công chứng và sang tên hợp pháp cho chồng tôi cùng năm đó. Đầu năm 2018, chồng tôi qua đời, Sau khi làm mai táng, tang ma cho chồng tôi xong, đến tháng 3 năm 2018 bố mẹ chồng tôi đuổi mẹ con tôi ra khỏi nhà và lấy lý do cho chồng tôi chứ không cho tôi và khóa cửa lại, khiến hai mẹ con tôi phải vể nhà ông bà ngoại. Thưa Luật sư cho tôi hỏi hành vi đó của bố mẹ chồng tôi làm như vậy là có đúng không?

Mong Luật sư tư vấn cho tôi. Cám ơn Luật sư.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến công ty Luật Sao Việt. Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

- Bộ Luật dân sự năm 2015

- Luật đất đai năm 2013

2. Luật sư tư vấn:

Như bạn có trình bày ở trên, thì ở trường hợp của bạn, do chồng bạn được cha mẹ tặng cho riêng một thửa đất là 1000m2 là tài sản riêng của chồng bạn.Cụ thể theo quy định tại Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định như sau:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Như vậy, mảnh đất này thuộc quyền sở hữu của chồng bạn, do đó khi chồng bạn qua đời thì sẽ phát sinh thừa kế với tài sản này. Chồng bạn khi mất đã không để lại di chúc nên tài sản thừa kế sẽ được phân chia theo pháp luật.

Cụ thể, điểm a khoản 1 Điều 651 của Bộ luật Dân sự 2015 có quy định cụ thể như sau:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Đối chiếu với trường hợp của bạn thì mảnh đất trên sẽ được chia đều cho những người sau: Bạn, con bạn, cha chồng, mẹ chồng được đồng thừa kế và có quyền lợi ngang nhau.

Vì thế, Bố mẹ chồng bạn đã cho chồng bạn, hợp đồng tặng cho hợp pháp, không có điều kiện, đã được sang tên cho chồng bạn trước khi chồng bạn  qua đời. Đồng thời, bên cạnh đó, việc đòi lại nhà và đuổi mẹ con bạn ra khỏi nhà của bố mẹ chồng bạn là không đúng. Trường hợp không thỏa thuận được về việc phân chia di sản thừa kế với cha mẹ chồng, bạn có thể khởi kiện vụ án dân sự tại tòa án cấp quận, huyện nơi có bất động sản để được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.

Để được tư vấn cụ thể hơn, vui lòng gửi mail về cho chúng tôi theo địa chỉ: congtyluatsaoviet@gmail.com hoặc liên hệ trực tiếp đến tổng đài 1900 6243.

Trân trọng./

Bình Luận

© 2018 SAOVIETLAW.COM Bản quyền thuộc về công ty Luật TNHH Sao Việt

logo-footer