Tôi là giáo viên dạy cấp 1 ,vì lợi dụng lòng tin của tôi mà 1 phụ huynh đã mượn tiền để giải quyết việc riêng và rủ làm ăn chung số tiền là 286 triệu đồng sau đó rất nhiều lần nói trả nhưng đều thất hứa .Sau tôi được biết người này còn mượn và lừa rất nhiều người khác do đó tôi đã bắt viết giấy nợ, trong giấy nợ ghi sau 3 tháng sẽ hoàn lại số tiền cho tôi. Nhưng vì hoang mang nên tôi và 1 số người cho người này vay có lên quê xác minh thì được biết người này chuyên đi lừa đảo, bỏ đi 3 năm nay ko về còn lừa tiền của rất nhiều người trên quê. Vậy cho tôi hỏi tôi có thể kiện người này được không và phí ra toà như thế nào ạ?  Tôi xin cảm ơn!

Trả lời:

Qua câu hỏi của anh/chị chúng tôi hiểu rằng anh/ chị đang muốn khởi kiện một vụ án dân sự để có thể đòi lại số tiền mà anh/chị đã cho người khác vay và có 2 vấn đề anh chị muốn làm rõ, 2 vấn đề đó là:

  • Một là, việc khởi kiện vụ án dân sự

Với những gì anh/ chị đã trình bày ở câu hỏi do chưa đầy đủ một số thông tin về việc cho vay nên để có thể trả lời việc có thể khởi kiện hay không thì cần phải đánh giá đầy đủ điều kiện khởi kiện vụ án dân sự như sau:

 Thứ nhất: Điều kiện về chủ thể khởi kiện

Để khởi kiện vụ án dân sự, anh/ chị là chủ thể khởi kiện phải có quyền khởi kiện và có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Đây là điều kiện đầu tiên phải xác định khi đương sự thực hiện việc khởi kiện căn cứ điểm a khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015.

Tuy nhiên, mặt dù người khởi kiện có quyền, lợi ích dân sự nhưng quyền, lợi ích đó không hoặc chưa bị xâm phạm thì cũng chưa đủ điều kiện khởi kiện vụ án dân sự. Ví dụ như là việc anh/chị có thỏa thuận về thời gian cho vay là sau 3 tháng sẽ hoàn trả cho nên nếu chưa hết 3 tháng đó thì chưa thể xác định được quyền, lợi ích hợp pháp của anh chị đã bị xâm phạm nên chưa thể khởi kiện được.

Thứ hai: Vụ án được khởi kiện phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Tòa án chỉ thụ lý vụ án dân sự đối với những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của mình. Anh/ chị không nêu rõ địa chỉ của anh/ chị, nơi anh/chị cho vay và địa chỉ người đã vay tiền nên chúng tôi chưa thể xác định được thẩm quyền giải quyết thuộc về Tòa án nhân dân nào. Tuy nhiên, về thẩm quyền giải quyết sự việc của anh/ chị thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân theo Điều 26 BLTTDS năm 2015; Còn cấp giải quyết được xác định là Tòa án nhân dân cấp huyện theo Điều 35, 36, 37, 38 BLTTDS năm 2015; Địa chỉ của Tòa án giải quyết theo lãnh thổ là nơi bị đơn (tức người anh/ chị cho vay tiền) đang cư trú, làm việc (khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015), ngoài ra anh/ chị cũng có quyền lựa chọn Tòa án theo quy định tại Điều 40 BLTTDS năm 2015. Nếu anh/ chị và bên vay tiền có thỏa thuận lựa chọn tòa án giải quyết thì phải kiểm tra tính hợp pháp của thỏa thuận.

Thứ ba, vụ án vẫn còn thời hiệu khởi kiện

Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà các anh/ chị có quyền khởi kiện được quyền yêu cầu tòa án giải quyết các tranh chấp dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích bị xâm phạm là hai năm kể từ ngày quyền lợi ích, dân sự bị xâm phạm, thời hiệu được đính theo Điều 154 BLDS 2015. Tuy nhiên sẽ không áp dụng thời hiệu khởi kiện trong các trường hợp cụ thể theo quy định tại Điều 155 BLDS 2015. Hết thời hạn đó thì chủ thể khởi kiện mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (Điều 168 BLTTDS 2015).

Thứ tư, sự việc chưa được giải quyết bằng một bản án hay quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp có quy định khác của pháp luật.

Nếu sự việc đã được Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết bằng một bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì anh/ chị không được khởi kiện lại đối với vụ án đó nữa, trừ những trường hợp: Bản án, quyết định của tòa án bác đơn chưa chấp nhận yêu cầu đòi tài sản anh/ chị cho vay thì vẫn có quyền khởi kiện lại (Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015).

Trên đây là điều kiện để anh/ chị xác định quyền lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm và các yêu cầu cần và đủ để có thể khởi kiện đòi tài sản.

-                  Hai là, án phí dân sự: căn cứ vào các quy định án phí tại Chương IX BLTTDS 2015 và căn cứ theo quy định tại Điều 24 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 thì các loại án phí trong vụ án dân sự bao gồm: 

“a) Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự không có giá ngạch; b) Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự có giá ngạch;c) Án phí dân sự phúc thẩm.”

Với quy định trên, để có thể xác định những tranh chấp dân sự nào thuộc trường hợp vụ án dân sự không có giá ngạch và vụ án dân sự có giá ngạch để xác định mức án phí mà các đương sự phải nộp khi khởi kiện vụ án dân sự. Theo quy định tại khoản 2,3 Điều 24 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 thì:

2. Vụ án dân sự không có giá ngạch là vụ án mà trong đó yêu cầu của đương sự không phải là một số tiền hoặc không thể xác định được giá trị bằng một số tiền cụ thể.

3. Vụ án dân sự có giá ngạch là vụ án mà trong đó yêu cầu của đương sự là một số tiền hoặc là tài sản có thể xác định được bằng một số tiền cụ thể.”

          Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí căn cứ theo Điều 25; Người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14.

          Còn mức án phí cụ thể đối với vụ án dân sự cũng được quy định chi tiết trong Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14  để anh/ chị có thể dự kiến được mức tạm ứng án phí dân sự phải nộp nếu khởi kiện.

          Trên đây là tư vấn của chúng tôi về điều kiện khởi kiện và các quy định về án phí vụ án dân sự để anh/ chị xem xét, đánh giá đối với yêu cầu khởi kiện của để có thể đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của mình một cách tốt nhất.

======================

Nếu còn vướng mắc hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác, mời bạn vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6243 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Sao Việt

 

Bình Luận

© 2018 SAOVIETLAW.COM Bản quyền thuộc về công ty Luật TNHH Sao Việt

logo-footer