Phụ huynh giao xe cho con chưa đủ tuổi: Nguy cơ tiềm tàng - dạy con "vi phạm pháp luật"
Xe máy hay xe đạp điện có thể trở thành phương tiện giúp trẻ rèn luyện tính tự lập trong việc đi lại, nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn và rủi ro pháp lý. Nếu cha mẹ buông lỏng quản lý, thiếu hiểu biết hoặc coi nhẹ các quy định của pháp luật về độ tuổi, bằng lái, đăng ký phương tiện và an toàn giao thông, thì không chỉ con em mà chính cha mẹ cũng có thể bị liên đới trách nhiệm. Thực tế đã có nhiều vụ việc thương tâm xảy ra, để lại hậu quả nghiêm trọng cả về tính mạng lẫn pháp lý. Đây là lời nhắc nhở rõ ràng rằng cha mẹ cần nâng cao ý thức quản lý, hướng dẫn con em chấp hành nghiêm quy định pháp luật khi tham gia giao thông, nhằm bảo vệ an toàn cho trẻ và tránh những hệ lụy pháp lý đáng tiếc.
1. Độ tuổi được điểu khiến xe gắn máy và xe máy theo quy định của pháp luật ?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 59 Luật Trật Tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 quy định về Độ tuổi của người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng được quy định như sau:
a) Người đủ 16 tuổi trở lên được điều khiển xe gắn máy;
b) Người đủ 18 tuổi trở lên được cấp giấy phép lái xe hạng A1, A, B1, B, C1, được cấp chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ để điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ;
c) Người đủ 21 tuổi trở lên được cấp giấy phép lái xe hạng C, BE;
d) Người đủ 24 tuổi trở lên được cấp giấy phép lái xe hạng D1, D2, C1E, CE;
đ) Người đủ 27 tuổi trở lên được cấp giấy phép lái xe hạng D, D1E, D2E, DE;
e) Tuổi tối đa của người lái xe ô tô chở người (kể cả xe buýt) trên 29 chỗ (không kể chỗ của người lái xe), xe ô tô chở người giường nằm là đủ 57 tuổi đối với nam, đủ 55 tuổi đối với nữ.
Như vậy, đối chiếu với quy định hiện hành, người đủ 16 tuổi mới được phép điều khiển xe đạp điện, xe máy điện và xe gắn máy dưới 50cc, và phải từ đủ 18 tuổi mới được phép điều khiển xe mô tô có dung tích trên 50cc, có giấy phép lái xe tương ứng. Phải hiểu biết quy tắc giao thông đường bộ, có kỹ năng điều khiển phương tiện; đủ điều kiện về độ tuổi, sức khỏe theo quy định. Như vậy, với việc nếu chưa đủ 16 tuổi mà đi xe gắn máy hay xe máy thì sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật.
2. Trách nhiệm pháp lý của phụ huynh và học sinh quy định của pháp luật ?
2.1. Trách nhiệm pháp lý đối với phụ huynh
Căn cứ theo Khoản 10 Điều 32 Nghị định 168/2024/NĐ-CP quy định Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 16.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô, các loại xe tương tự xe gắn máy thực hiện hành vi vi phạm giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ điều khiển xe tham gia giao thông (bao gồm cả trường hợp người điều khiển phương tiện có giấy phép lái xe nhưng đang trong thời gian bị tước quyền sử dụng).
Như vậy, phụ huynh có thế bị phạt tiền từ 800.000.000 đến 10.000.000 đồng khi giao xe cho con chưa đủ tuổi lái xe.
2.2. Trách nhiệm pháp lý đối với học sinh
Căn cứ theo Khoản 1 và Điểm a Khoản 4 Điều 18 Nghị định 168/2024/NĐ-CP
- Phạt cảnh cáo người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy.
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe mô tô có dung tích xi- lanh từ 50 cm3 trở lên bị phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm.
Khi đó, người từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy sẽ bị xử phát ở mức nhẹ là cảnh cáo. Từ đủ 16 tuổi trở lên thì sẽ bị xử phạt tiền từ 400.000-600.000 đồng .
3. Thực trạng về tình hình “phụ huynh giao xe cho con chưa đủ tuổi điều khiển phương tiện”.
Thực trạng hiện nay cho thấy, tai nạn giao thông liên quan đến học sinh điều khiển phương tiện cơ giới đang có chiều hướng gia tăng cả về số lượng lẫn tính chất phức tạp, kéo theo nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho xã hội. Pháp luật Việt Nam đã quy định rất rõ về độ tuổi tối thiểu khi được phép điều khiển từng loại phương tiện giao thông, cũng như trách nhiệm pháp lý đối với hành vi giao xe cho người chưa đủ điều kiện. Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng vi phạm vẫn diễn ra phổ biến và đã gây ra nhiều vụ tai nạn thương tâm.
Một trong những nguyên nhân xuất phát từ việc nhiều phụ huynh, người giám hộ còn xem nhẹ các chế tài xử phạt hành chính đối với hành vi giao xe cho người chưa đủ tuổi điều khiển. Sự chủ quan này vô hình trung tạo điều kiện cho các vi phạm tiếp tục tái diễn, dẫn đến những hậu quả nặng nề. Tai nạn giao thông không chỉ để lại mất mát, tổn thương và ám ảnh tâm lý đối với bản thân trẻ em và gia đình, mà còn phát sinh các hệ lụy pháp lý nghiêm trọng.
Theo Điều 264 Bộ luật Hình sự năm 2015, nếu giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà gây hậu quả thiệt hại về người hoặc tài sản, cha mẹ hoặc người giao xe có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Mức hình phạt cho hành vi này có thể lên đến 07 năm tù giam, tùy thuộc vào mức độ và hậu quả thực tế. Quy định này thể hiện sự nghiêm minh, răn đe mạnh mẽ của pháp luật nhằm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông.
Để phòng ngừa rủi ro và tránh những hậu quả pháp lý cũng như tai nạn đáng tiếc, các bậc phụ huynh cần:
Nâng cao nhận thức pháp luật, chủ động tìm hiểu và tuân thủ quy định về độ tuổi, điều kiện điều khiển phương tiện.
Tuyệt đối không giao xe cho người chưa đủ tuổi theo quy định pháp luật.
Quản lý, giáo dục và hướng dẫn con em trong việc tham gia giao thông an toàn, đúng luật.
Phối hợp chặt chẽ với nhà trường, chính quyền địa phương để tăng cường công tác tuyên truyền, giám sát và giáo dục pháp luật về an toàn giao thông cho học sinh.
Chỉ khi mỗi gia đình thực hiện nghiêm túc trách nhiệm của mình, kết hợp với sự quản lý xã hội, mới có thể hạn chế tối đa những vụ tai nạn thương tâm do người chưa đủ tuổi điều khiển phương tiện gây ra.
Nếu còn bất kỳ vướng mắc nào liên quan, hãy liên hệ với Luật sư và Chuyên viên pháp lý của chúng tôi để được hỗ trợ kịp thời và hiệu quả.
Liên hệ ngay để được Luật sư, Chuyên viên pháp lý hỗ trợ kịp thời:
- CÔNG TY LUẬT TNHH SAO VIỆT -
"Sự bảo hộ hoàn hảo trong mọi quan hệ pháp luật"
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6243
Địa chỉ tư vấn trực tiếp: Số 525B Lạc Long Quân, P. Xuân La, Q. Tây Hồ, Hà Nội
Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: congtyluatsaoviet@gmail.com