Khi tham gia giải quyết một vụ án hình sự, người làm chứng có thể phải di chuyển đến cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án để cung cấp thông tin, trình bày những tình tiết liên quan đến vụ án. Quá trình này có thể phát sinh các khoản chi phí đi lại, lưu trú và những chi phí cần thiết khác.
Vậy người làm chứng có được thanh toán những khoản chi phí này không? Cơ quan nào có trách nhiệm thanh toán và thủ tục thực hiện như thế nào?
.jpg)
1. Người làm chứng trong vụ án hình sự có được thanh toán chi phí đi lại không?
Theo điểm d khoản 3 Điều 66 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, người làm chứng có quyền được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh quyền được thanh toán chi phí, người làm chứng còn có các quyền sau:
- Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ của mình;
- Yêu cầu cơ quan triệu tập bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích khi bị đe dọa;
- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc tham gia làm chứng.
Đồng thời, người làm chứng phải thực hiện các nghĩa vụ:
- Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
- Trình bày trung thực những tình tiết mình biết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, vụ án và lý do biết được những tình tiết đó.
Trường hợp cố ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan, đồng thời việc vắng mặt gây trở ngại cho quá trình giải quyết vụ án thì người làm chứng có thể bị dẫn giải theo quy định.
Như vậy, pháp luật vừa ghi nhận quyền được thanh toán chi phí khi tham gia tố tụng, vừa đặt ra nghĩa vụ có mặt và khai báo trung thực đối với người làm chứng.
2. Người làm chứng được thanh toán những khoản chi phí nào?
Ngoài quyền được quy định tại Điều 66 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 15 Nghị định số 81/2014/NĐ-CP quy định cụ thể về các khoản chi phí dành cho người làm chứng.
Theo đó, tùy từng trường hợp, chi phí có thể bao gồm:
- Tiền lương hoặc thù lao: Được xác định theo trường hợp người làm chứng thuộc diện hưởng tiền lương hoặc thù lao theo quy định.
- Chi phí đi lại: Các khoản chi thực tế phát sinh để di chuyển phục vụ việc làm chứng.
- Chi phí lưu trú: Các khoản chi phát sinh khi người làm chứng phải lưu trú để thực hiện hoạt động tố tụng.
- Các chi phí khác: Những khoản chi liên quan và phục vụ trực tiếp cho công việc làm chứng theo quy định.
Đáng chú ý, chi phí đi lại và lưu trú không được xác định theo một mức tiền cố định áp dụng chung cho tất cả người làm chứng.
Theo khoản 1 Điều 18 Nghị định số 81/2014/NĐ-CP, các khoản này được xác định trên cơ sở thực tế phát sinh của từng trường hợp, căn cứ vào hợp đồng (nếu có), hóa đơn, chứng từ và quy định về chế độ công tác phí, chế độ chi hội nghị đối với cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập.
Do đó, người làm chứng nên lưu giữ các chứng từ liên quan đến quá trình di chuyển, lưu trú để làm căn cứ đề nghị thanh toán.
3. Cơ quan nào có trách nhiệm thanh toán chi phí cho người làm chứng?
Theo Điều 45 Pháp lệnh số 02/2012/UBTVQH13, cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập người làm chứng có trách nhiệm thanh toán chi phí cho người làm chứng.
Nguồn kinh phí thanh toán được bảo đảm từ kinh phí hoạt động hằng năm của cơ quan tiến hành tố tụng.
Như vậy, tùy thuộc vào cơ quan triệu tập, trách nhiệm giải quyết việc thanh toán được xác định tương ứng:
- Cơ quan điều tra có trách nhiệm giải quyết chi phí đối với người làm chứng do mình triệu tập;
- Viện kiểm sát có trách nhiệm giải quyết chi phí đối với người làm chứng do mình triệu tập;
- Tòa án có trách nhiệm giải quyết chi phí đối với người làm chứng do mình triệu tập tham gia phiên tòa.
Đặc biệt, khoản 9 Điều 3 Văn bản hợp nhất số 35/VBHN-BTC ngày 22/8/2025 cũng quy định trường hợp cán bộ, công chức, viên chức và người lao động được cơ quan tiến hành tố tụng mời làm nhân chứng trong các vụ án liên quan đến công việc chuyên môn thì cơ quan tiến hành tố tụng thanh toán chi phí đi lại và các chi phí khác theo quy định pháp luật từ nguồn kinh phí của cơ quan tiến hành tố tụng.
4. Mức thanh toán tiền lương, thù lao cho người làm chứng được xác định như thế nào?
Theo Điều 16 và Điều 17 Nghị định số 81/2014/NĐ-CP, tiền lương, thù lao cho người làm chứng được xác định tùy theo tính chất và trường hợp tham gia tố tụng.
Đối với người làm chứng thuộc trường hợp không hưởng tiền lương theo quy định tại khoản 1 Điều 16, mức thù lao khi tham gia phiên tòa được xác định bằng 100% mức lương cơ sở tính theo ngày lương.
Đối với người thực hiện giám định, định giá được triệu tập tham gia phiên tòa với tư cách người làm chứng, mức tiền lương được xác định bằng 200% mức lương cơ sở tính theo ngày lương.
Đối với người làm chứng tham gia các hoạt động tố tụng khác ngoài phiên tòa, phiên họp, mức tiền lương hoặc thù lao tương ứng được tính bằng 50% mức chi quy định tại Điều 16 và Điều 17 Nghị định này theo trường hợp áp dụng.
Như vậy, ngoài chi phí đi lại và lưu trú, người làm chứng còn có thể được thanh toán tiền lương hoặc thù lao theo điều kiện luật định. Các khoản này cần được xem xét độc lập, không nên đồng nhất với chi phí đi lại.
5. Thủ tục đề nghị thanh toán chi phí cho người làm chứng
Theo Điều 19 Nghị định số 81/2014/NĐ-CP, người làm chứng thực hiện thủ tục đề nghị thanh toán chi phí theo quy định.
Hồ sơ đề nghị thanh toán bao gồm:
- Giấy đề nghị thanh toán chi phí cho người làm chứng, trong đó có thông tin người đề nghị, số tiền đề nghị thanh toán và phương thức thanh toán;
- Bản chính hóa đơn, chứng từ hợp pháp có liên quan để chứng minh các khoản chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm kiểm tra tính đầy đủ và hợp pháp của các tài liệu.
Nếu hồ sơ chưa đáp ứng yêu cầu, cơ quan tiến hành tố tụng phải thông báo và nêu rõ lý do để người làm chứng bổ sung.
Nếu hồ sơ đầy đủ, hợp pháp, việc thanh toán được thực hiện theo quy định về kiểm soát, thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước.
Lưu ý, Điều 19 Nghị định số 81/2014/NĐ-CP quy định cụ thể thời điểm nộp hồ sơ ngay sau khi kết thúc công việc làm chứng tại phiên tòa, phiên họp. Đối với hoạt động làm chứng ở giai đoạn điều tra hoặc các hoạt động tố tụng khác, người làm chứng cần liên hệ cơ quan triệu tập để được hướng dẫn về việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ tương ứng.
6. Khuyến nghị từ Luật Sao Việt
Để bảo đảm quyền lợi hợp pháp khi tham gia tố tụng hình sự, Luật Sao Việt khuyến nghị người làm chứng:
- Kiểm tra thông tin trên giấy triệu tập, đặc biệt là cơ quan triệu tập, thời gian, địa điểm và nội dung làm việc;
- Chủ động lưu giữ vé xe, hóa đơn, chứng từ đi lại, lưu trú và các khoản chi phí thực tế phát sinh;
- Trao đổi với cơ quan triệu tập về hồ sơ, thủ tục và đầu mối tiếp nhận đề nghị thanh toán;
- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ có mặt và khai báo trung thực theo quy định của pháp luật.
Tóm lại, người làm chứng trong vụ án hình sự có quyền được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định. Đây không chỉ là quyền được ghi nhận tại Bộ luật Tố tụng hình sự mà còn được cụ thể hóa tại Pháp lệnh số 02/2012/UBTVQH13 và Nghị định số 81/2014/NĐ-CP. Vì vậy, người làm chứng cần chủ động tìm hiểu và thực hiện đúng thủ tục để bảo đảm quyền lợi của mình khi tham gia hoạt động tố tụng.
Liên hệ ngay để được Luật sư, Chuyên viên pháp lý hỗ trợ kịp thời:
- CÔNG TY LUẬT TNHH SAO VIỆT -
"Sự bảo hộ hoàn hảo trong mọi quan hệ pháp luật"
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6243
Địa chỉ tư vấn trực tiếp: Số 525 đường Lạc Long Quân, P. Tây Hồ, TP. Hà Nội
Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: congtyluatsaoviet@gmail.com
