Theo Điều 42 Dự thảo Luật Đất đai, bản cập nhật ngày 08/8/2026, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được đề xuất theo hướng bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người có đất bị thu hồi, đồng thời gắn việc bồi thường với ổn định đời sống, việc làm và nơi ở.

1. Bồi thường phải công khai, minh bạch và công bằng

Theo khoản 1 Điều 42 Dự thảo, việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải bảo đảm các nguyên tắc dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, minh bạch, kịp thời và đúng quy định pháp luật.

Chính sách đồng thời phải quan tâm đến các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội và người trực tiếp sản xuất nông nghiệp.

Điều này có nghĩa, khi Nhà nước thu hồi đất, việc xác định mức bồi thường không chỉ cần bảo đảm tính chính xác mà quá trình thực hiện cũng phải công khai, minh bạch, tạo điều kiện để người có đất bị thu hồi biết, thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

2. Ưu tiên bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng

Theo khoản 2 Điều 42, việc bồi thường về đất được đề xuất thực hiện bằng đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất bị thu hồi. Trường hợp không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền.

Trong trường hợp địa phương có quỹ đất, quỹ nhà ở và người có đất bị thu hồi có nhu cầu, có thể xem xét bồi thường bằng đất khác mục đích sử dụng hoặc bằng nhà ở.

Đáng chú ý, nếu người được bồi thường bằng đất hoặc nhà ở có nhu cầu nhận tiền thì dự thảo cho phép xem xét bồi thường bằng tiền.

Như vậy, dự thảo đang đề xuất đa dạng hóa phương thức bồi thường, thay vì chỉ áp dụng một hình thức duy nhất.

3. Tài sản bị thiệt hại và các khoản hỗ trợ cũng được xem xét

Theo khoản 3 Điều 42, chủ sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật dân sự nếu bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường thiệt hại. Đối với chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh phải ngừng hoạt động do Nhà nước thu hồi đất thì được xem xét hỗ trợ theo quy định.

Như vậy, quyền lợi của người bị thu hồi đất không chỉ liên quan đến giá trị quyền sử dụng đất. Nhà ở, công trình, cây trồng, vật nuôi và các tài sản khác thuộc trường hợp được pháp luật quy định có thể được xem xét bồi thường khi bị thiệt hại.

Việc không được bồi thường về đất cũng không đồng nghĩa với việc người sử dụng đất mất toàn bộ quyền lợi. Các khoản bồi thường tài sản, chi phí đầu tư vào đất còn lại và các chính sách hỗ trợ có thể được xem xét nếu đáp ứng điều kiện theo quy định tương ứng.

4. Hỗ trợ việc làm, ổn định đời sống và sản xuất

Theo khoản 4 Điều 42, Nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ người có đất bị thu hồi và chủ sở hữu tài sản để tạo điều kiện cho họ có việc làm, có thu nhập, ổn định đời sống và sản xuất.

Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với người trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Bởi khi mất đất sản xuất, người sử dụng đất không chỉ mất đi một tài sản mà còn có thể mất nguồn thu nhập và sinh kế lâu dài.

Vì vậy, chính sách được đề xuất theo hướng việc bồi thường cần gắn với các biện pháp hỗ trợ sinh kế, việc làm và ổn định đời sống, thay vì chỉ giải quyết giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm thu hồi.

5. Tái định cư phải có hạ tầng đồng bộ và phù hợp với cộng đồng dân cư

Theo khoản 5 Điều 42, khu tái định cư phải hoàn thiện các điều kiện về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đồng bộ theo quy hoạch chi tiết được phê duyệt.

Khu tái định cư đồng thời phải phù hợp với truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư nơi có đất bị thu hồi. Một khu tái định cư có thể được bố trí cho một hoặc nhiều dự án.

Như vậy, việc bố trí tái định cư không chỉ nhằm bảo đảm chỗ ở mà còn phải đáp ứng các yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và sự phù hợp với cộng đồng dân cư theo quy định của dự thảo.

6. Có thể xem xét thu hồi phần đất còn lại theo nhu cầu

Theo khoản 6 Điều 42, trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất vì quốc phòng, an ninh hoặc phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, nếu người sử dụng đất có nhu cầu thu hồi phần diện tích còn lại của thửa đất, cơ quan có thẩm quyền có thể quyết định thu hồi và thực hiện bồi thường, hỗ trợ, quản lý phần đất này theo quy định của Chính phủ.

Quy định này có ý nghĩa thực tế đối với những trường hợp sau khi bị thu hồi một phần, diện tích đất còn lại không còn thuận lợi hoặc không còn phù hợp để tiếp tục sử dụng.

7. Chuyển nhượng đất trong thời gian có thông báo thu hồi

Một nội dung đáng chú ý tại khoản 8 Điều 42 là trong thời gian thông báo thu hồi đất còn hiệu lực, nếu người có đất bị thu hồi chuyển quyền sử dụng đất thì bên nhận chuyển quyền vẫn thuộc đối tượng được xem xét bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của dự thảo.

Tuy nhiên, tổng mức bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của bên nhận chuyển quyền không được vượt quá tổng mức áp dụng đối với bên chuyển quyền.

Quy định này nhằm xác định rõ giới hạn quyền lợi trong trường hợp quyền sử dụng đất được chuyển giao trong thời gian đã có thông báo thu hồi đất.

8. Những trường hợp không được bồi thường về đất

Theo Điều 45 Dự thảo, có 9 nhóm trường hợp được đề xuất không bồi thường về đất, gồm:

Thứ nhất, đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, trừ trường hợp đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân thuộc trường hợp được bồi thường.

Thứ hai, đất được Nhà nước giao cho tổ chức thuộc trường hợp có thu tiền sử dụng đất nhưng được miễn tiền sử dụng đất.

Thứ ba, đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hằng năm; đất thuê trả tiền một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Thứ tư, đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích do UBND cấp xã cho thuê.

Thứ năm, đất nhận khoán để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối.

Thứ sáu, diện tích đất nông nghiệp được giao vượt hạn mức.

Thứ bảy, đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước quản lý.

Thứ tám, đất bị thu hồi do vi phạm pháp luật về đất đai; do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật; hoặc do người sử dụng đất giảm, không còn nhu cầu sử dụng và tự nguyện trả lại đất.

Thứ chín, các trường hợp khác do Chính phủ quy định.

Đáng chú ý, dự thảo đề xuất quy định cụ thể 9 nhóm trường hợp không được bồi thường về đất. Tuy nhiên, đây vẫn là nội dung của dự thảo và có thể tiếp tục được điều chỉnh trong quá trình hoàn thiện.

9. Không được bồi thường về đất có phải là “mất trắng”?

Không được bồi thường về đất chỉ có nghĩa là người sử dụng đất không được bồi thường đối với giá trị quyền sử dụng đất trong trường hợp thuộc diện quy định tại Điều 45.

Điều này không đồng nghĩa với việc người sử dụng đất mất toàn bộ quyền lợi. Các quyền lợi khác vẫn có thể được xem xét nếu đáp ứng điều kiện theo quy định tương ứng, chẳng hạn:

  • Bồi thường đối với tài sản bị thiệt hại;
  • Bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại trong trường hợp đủ điều kiện;
  • Hỗ trợ ổn định đời sống;
  • Hỗ trợ ổn định sản xuất;
  • Hỗ trợ việc làm, chuyển đổi nghề;
  • Các chính sách hỗ trợ và tái định cư khác theo quy định.

Vì vậy, khi có quyết định thu hồi đất, người sử dụng đất không nên chỉ quan tâm đến câu hỏi “có được bồi thường về đất hay không?” mà cần xác định đầy đủ các quyền lợi liên quan đến đất, tài sản, chi phí đầu tư, các khoản hỗ trợ và tái định cư.

Kết luận

Theo Điều 42 Dự thảo Luật Đất đai 2026, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đang được đề xuất theo hướng không chỉ bù đắp giá trị quyền sử dụng đất mà còn chú trọng bảo đảm chỗ ở, việc làm, thu nhập và điều kiện sống của người có đất bị thu hồi theo quy định.

Đáng chú ý, dự thảo đề xuất ưu tiên bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng, cho phép xem xét bồi thường bằng đất khác mục đích hoặc nhà ở trong một số trường hợp; đồng thời yêu cầu khu tái định cư phải có hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ và phù hợp với cộng đồng dân cư.

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng đây vẫn là nội dung của Dự thảo Luật Đất đai 2026, bản cập nhật ngày 08/8/2026, chưa phải quy định pháp luật đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực. Các nội dung nêu trên có thể tiếp tục được sửa đổi trong quá trình hoàn thiện dự thảo.

 

Liên hệ ngay để được Luật sư, Chuyên viên pháp lý hỗ trợ kịp thời:

- CÔNG TY LUẬT TNHH SAO VIỆT -            
"Sự bảo hộ hoàn hảo trong mọi quan hệ pháp luật"         

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6243

Địa chỉ tư vấn trực tiếp: Số 525 đường Lạc Long Quân, P. Tây Hồ, TP. Hà Nội

Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: congtyluatsaoviet@gmail.com



Từ Khóa
Bình Luận

© 2018 SAOVIETLAW.COM Bản quyền thuộc về công ty Công Ty Luật TNHH Sao Việt

logo-footer